TÁC DỤNG THẦN KỲ CỦA NHO VÀ CHẤT RESVERATROL Ở VỎ TRÁI NHO

Lượt xem : 354

Nho cũng chứa anthocyanin và những hợp chất phenol khác. Anthocyanin, có khuynh hướng là polyphenol chính của nho đỏ, trong khi flavan-3-ol (như catechin) là hợp chất polyphenol nhiều hơn trong nho trắng. Hàm lượng phenol toàn phần, chỉ số cường độ chống oxy hóa của thực phẩm, cao hơn trong trái nho đỏ do tỷ lệ anthocyanin trong da nho đỏ cao hơn ở trái nho trắng. Chính anthocyanin đã dẫn các nhà khoa học tới định nghĩa tính chất trong sức khỏe con người. Lượng phenol trong vỏ nho biến đổi tùy theo thành phần đất trồng, khí hậu, nguồn gốc địa lý, thực hành trồng tỉa hay phơi nhiễm với bệnh như nhiễm nấm.

 

Rượu nho đỏ giúp cho sức khỏe nhiều hơn nho trắng vì có nhiều hợp chất có ích hiện diện từ vỏ trái nho, và chỉ có rượu nho đỏ lên men với da trái nho. Thời gian lên men của rượu nho khi tiếp xúc với vỏ trái nho là yếu tố quyết định hàm lượng resveratrol. Thông thường, rượu nho đỏ không phải giống Muscadin chứa khoảng 0,2 – 5,8 mg resveratrol/lít, tùy theo giống nho, vì lên men với vỏ trái nho, cho phép rượu hấp thu resveratrol. Trái lại, rượu nho trắng chứa hàm lượng resveratrol thấp hơn vì chỉ lên men sau khi loại bỏ vỏ nho. Rượu nho sản xuất từ giống nho Muscadin có thể chứa hơn 40 mg resveratrol/ lít. Trong vỏ nho Muscadin, acid ellagic, myricetin, quercetin, kaemferol và trans-resveratrol là những hợp chất polyphenol chính. Trái với kết quả trước, ellagic acid chứ không phải resveratrol là thành phần polyphenol chính của nho Muscadin.

 

Ngoài vỏ nho, còn tìm thấy lượng lớn trong dược liệu cổ truyền Nhật và Trung Quốc như Củ cốt khí (Polygonum cuspidatum), và có mặt trong Bưởi đỏ, Đậu phộång, một số Dâu dại như Mulberry, Blueberry và Bilberry. Dâu tằm… resveratrol được tổng hợp trong tế bào thảo mộc khi bị nấm tấn công hay khi thiếu chất dinh dưỡng. Trans-resveratrol là dạng hoạt chất.

 

Năm 1997 nghiên cứu báo cáo tiềm năng chống ung thư của trans-resveratrol khiến nhiều công ty thực phẩm chức năng mọc ra để sản xuất chất này. Những nghiên cứu phụ, thực hiện trên tế bào cấy và Ruồi trái cây, Viên trùng, cá, động vật có xương sống, cho thấy hoạt tính chống ung thư, và gợi ý trans-resveratrol cung cấp thêm lợi ích chống tiểu cầu, chống lão hóa, chống béo mập cũng như tính tăng cường hệ miễn dịch. Trong những nghiên cứu này, dùng resveratrol giảm viêm sụn thú vật, thúc đẩy ức chế cholesterol trong vi khuẩn, ức chế sinh sản tế bào T, xúc tiến chương trình tự hủy các loại tế bào u bướu, và đưa đến kéo dài tuổi thọ của mẫu Ruồi trái cây, Viên trùng, nấm men. Những tác động này khiến người ta nhắm vào lợi ích cải thiện kết quả bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường, xúc tiến dùng hóa liệu ngừa ung thư, giúp giảm cân và phòng ngừa bệnh Alzheimer, và kéo dài tuổi thọ con người nhờ resveratrol.

 

Một công thức resveratrol thoa ngoài da có tiềm năng chống lão hóa da mới được báo cáo, và ngày càng nhiều báo cáo ứng dụng resveratrol xuất hiện. Tuy nhiên, chứng cứ lâm sàng trên con người về hiệu quả của resveratrol vẫn còn thiếu.

 

Tiềm năng và cơ chế tác dụng.

 

Chứng cứ ngày càng nhiều qua các nghiên cứu phân tử, tế bào và thú vật gợi ý nhiều cơ chế tác dụng hỗ trợ cho tính chất phát huy sức khỏe của resveratrol. Tuy nhiên, một số dữ liệu lại trái ngược nhau. Thí dụ, nghiên cứu in vitro tìm thấy resveratrol vừa tăng vừa giảm chức năng miễn dịch ở tế bào con người. Mặc dầu resveratrol có thể làm chậm lại phát triển mạch máu, chất này cũng cho thấy làm chậm lành vết thương.

 

Tính chất bảo vệ tim.

 

Tiềm năng bảo vệ tim của resveratrol liên quan với nhiều cơ chế. Ở mẫu thú vật thiếu máu cục bộ – tưới máu trở lại (ischemia-reperfusion), resveratrol giảm peroxyt hóa lipid, giảm hư hại cơ quan và cải thiện thiếu máu cục bộ cơ tim. In vitro, resveratrol cho thấy tính chống viêm mạnh hơn aspirin và ibuprofen, ức chế nitric oxid ở đại thực bào bị kích hoạt, cải thiện chức năng ty lạp thể, và giảm interleukin 1 (IL-1), IL-8 và yếu tố tăng bầy đại thực bào có hạt (granulocyte macrophage colony-stimulating factor).

 

Tác dụng miễn dịch, chống tiểu cầu, chống viêm và chống ung thư.

 

Resveratrol có thể đàn áp tế bào T sinh sản, là nguyên nhân sinh phản ứng miễn dịch. Resveratrol ức chế tăng trưởng u bướu buồng trứng, ruột già và vú; tăng trưởng cấp dòng tế bào bạch cầu; ngăn ngừa tế bào ung thư gan khỏi xâm nhập mô địa phương – tất cả đều là cơ chế tiềm tàng để giảm nguy cơ ung thư. Tính chất chống tiểu cầu có vẻ như là kết quả của resveratrol giảm kết dính tiểu cầu và làm cho mạch máu giãn ra. Trong mẫu thú vật, resveratrol thấy ngăn giảm glutathione liên quan đến amyloid peptid, bảo vệ hư hại do oxy hóa gây ra bởi peptid, và giảm thành lập mảng vữa trong não – tất cả đóng góp vào cơ chế bảo vệ chống bệnh Alzheimer.

 

 

Tác dụng chống lão hóa.

 

Người ta chú ý nhiều về tiềm năng của resveratrol cải thiện hoạt động não bộ và sức khỏe tim mạch – do đó vội vã bảo chất này giống như Sâm chống lão hóa mà chưa chứng minh. Một số quan sát tính bảo vệ sức khỏe não bộ do liên quan giữa uống rượu chát đỏ và tỷ số sinh bệnh sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer thấp, gợi ý resveratrol có lợi chống thoái hóa thần kinh. Trong nhiều nghiên cứu, người ta thấy resveratrol bắt chước tác dụng giới hạn năng lượng thông qua kích hoạt sirtuin, làm tăng tuổi thọ chuột nhắt và động vật không xương sống bằng cách cải thiện chức năng ty lạp thể, tăng nhạy cảm với insulin, và kiểm soát hoạt động của những yếu tố phiên mã. Kích hoạt Sirtuin – một khả năng của động vật có vú, có thể đóng góp vào tính chất chống sinh amyloid của resveratrol như là cơ chế tiềm tàng để cải thiện tuổi thọ của con người. Resveratrol loại thải amyloid peptid não in vitro được xem là cơ chế cải thiện chức năng nhận thức ở người. Những cơ chế tương tự cung cấp vai trò căn bản trong việc phòng ngừa bệnh liên quan đến tuổi tác.

 

Resveratrol giảm hư hại oxy hóa cho tinh dịch người đông lạnh.

 

Resveratrol, một polyphenol quan trọng trong rượu chát đỏ – giảm hư hại tinh dịch người đông lạnh, theo một nghiên cứu ở Brasil. Resveratrol đã được biết làm giảm sự thoái hóa thần kinh, giảm sinh u bướu và xơ vữa động mạch, theo báo cáo của báo Fertility và Sterility ngày 3/2/2010.

 

Trong nghiên cứu này, bác sĩ Fabio F. Pasqualotto ở Đại học Caxia do Sul và cộng sự, ủ mẫu tinh trùng với resveratrol hay không, trước khi cho đông lạnh. Tinh trùng từ 10 người đàn ông khỏe mạnh có khả năng sinh con và 20 người không thể sinh con.

 

Ở mức căn bản, những người đàn ông không thể có con có nồng độ tinh trùng thấp và ít di chuyển, và thỏa mãn tiêu chuẩn Kruger về hình dáng, so với đàn ông có khả năng sinh con. Mẫu tinh trùng đàn ông không con cũng có mức hoạt động thấp superoxid dismutase (SOD) và catalase và hư hại lipid cao hơn.

 

Nhưng sau khi ủ với resveratrol, hoạt động SOD tăng trong mẫu tinh trùng từ đàn ông vô sinh (không thay đổi ở mẫu tinh trùng đàn ông có khả năng có con). Hơn nữa, resveratrol ngăn ngừa hư hại lipid do bảo quản gây ra, một tác dụng không phụ thuộc liều.

 

Resveratrol không cải thiện chuyển động tinh trùng gây ra bởi bảo quản, và cũng không tác động lên nồng độ và hình dáng tinh trùng.

 

Có vài chất chống oxy hóa có thể giúp bệnh nhân cải thiện tình trạng vô sinh, trong đó có resveratrol. Sử dụng chất chống oxy hóa có thể giúp bệnh nhân cải thiện phẩm chất tinh dịch ngay cả khi tinh dịch bị đông lạnh, theo lời bác sĩ Pasqualotto.

 

Hai vấn đề đặt ra cho resveratrol là:

 

– Dùng dạng nào, nồng độ bao nhiêu để hấp thu tốt nhất và có kết quả nhất.

– Nên dùng nguồn resveratrol nào hợp với nhu cầu kỹ nghệ tại Việt Nam mà vẫn bảo đảm hiệu quả và an toàn cho người bệnh.

Nồng độ, công thức, liều lượng và độc tính

 

Nồng độ khác nhau trong sản phẩm: nồng độ resveratrol trong thức ăn và nước uống biến đổi tùy theo sản phẩm. So sánh trọng lượng, đậu phộång chỉ có một nửa lượng resveratrol so với rượu chát đỏ. Nồng độ resveratrol trong Cranberry và nước Bưởi ngang nhau. Blueberry cao gấp đôi Bilberry, nhưng điều kiện thổ nhưỡng khác nhau khiến nồng độ khác nhau. Nồng độ resveratrol ở những trái cây này thấp hơn nhiều so với trong Bưởi đỏ, và nấu chín càng làm giảm nồng độ cho đến 50%.

 

Hàm lượng trans-resveratrol trong rượu nho tùy thuộc giống nho, khí hậu và phương pháp xử lý. Rượu chát đỏ, đặc biệt làm từ nho pinot đen (5,13 mg/dL), chứa nồng độ resveratrol cao nhất và rượu nho trắng hàm lượng thấp nhất (1 – 5% của rượu chát đỏ). Ngoài ra, nho mọc ở khí hậu ẩm và lạnh có nồng độ resveratrol cao hơn là nho mọc ở khí hậu nóng và khô. Nói chung, một lượng rượu chát đỏ 120 ml cung cấp khoảng 320 mcg resveratrol (0,2 – 5,8 mg/lít).

 

Công thức sản xuất và liều lượng.

 

Resveratrol hiện nay được bào chế bằng phương pháp tổng hợp và bán như chất hỗ trợ dinh dưỡng trong viên nang hay viên nén. Sản phẩm resveratrol phần chính làm từ Cốt khí củ (Japanese knotweed), ở dạng rễ khô, chứa đến 187 mg resveratrol/kg. Sản phẩm thực phẩm chức năng bán ở các hiệu thuốc và hiệu bán chất hỗ trợ dinh dưỡng với liều từ 15 đến 600 mg mỗi viên, và nhà sản xuất đề nghị dùng liều cao như là có cường độ tác dụng cao, nhưng chưa có chứng cứ hỗ trợ cho liều khuyên dùng cho resveratrol. Ở người, sinh khả dụng đường uống của resveratrol dạng viên bị chất vấn, vì ít hơn 5% sản phẩm hiện diện trong huyết tương sau khi uống vào và chuyển hóa nhanh trong gan và ruột. Ngay cả sau khi uống rượu chát đỏ, mức resveratrol trong huyết thanh cũng không cho thấy đủ để tạo ra tác dụng sinh lý thấy ở thú vật và mẫu tế bào. Những kết quả trên đưa ra câu hỏi, liệu resveratrol, rượu nho đỏ hay kết hợp hoạt chất (kể cả procyanidin) trong rượu chát đỏ có lợi thật cho sức khỏe không?

 

Nói tóm lại, người ta chưa biết đủ hiệu quả lâm sàng và tiềm năng gây độc hại khi dùng resveratrol như là chất hỗ trợ dinh dưỡng.

 

Độc tính và chống chỉ định.

 

Cơ quan kiểm soát thực dược phẩm Hoa Kỳ cũng như châu Âu không đưa ra khuyến cáo giới hạn tối đa tiêu thụ để tránh nhiễm độc resveratrol. Tuy nhiên, dùng nhiều resveratrol trong rượu chát đỏ bị giới hạn vì tác dụng độc hại của rượu. Độc tính của rượu nho có vẻ thấp khi dùng ở lượng vừa phải khoảng 2 ly 120 ml cho quý ông và 1 ly 120 ml cho quý bà.

 

Vì tính chất chống tiểu cầu của resveratrol, bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu hay thuốc chống kết cụm tiểu cầu hay đang dùng dược thảo có tiềm năng tăng nguy cơ xuất huyết như tỏi, feverfew, gừng, bạch quả, sâm, nghệ phải cẩn thận khi dùng resveratrol. Ngoài ra, resveratrol đã được báo cáo tăng nhạy cảm với insulin, và phải dùng dè dặt với bệnh nhân đang dùng thuốc trị bệnh tiểu đường. Mặc dầu resveratrol là phytoestrogen yếu, chất này có tính hỗn hợp đồng vận và đối kháng hoạt động của estrogen, và không nên dùng resveratrol cho phụ nữ ung thư phụ thuộc estrogen.

 

Nên dùng nguồn resveratrol nào?

 

Qua những thông tin trên, ta thấy khí hậu ở Việt Nam không lý tưởng để trồng nho sản xuất resveratrol. Pháp là nước đầu tiên đưa ra quy trình sản xuất resveratrol từ nho, nhưng giá thành không biết nước nào rẻ nhất mà vẫn bảo đảm phẩm chất, vì có thể bị sinh thái làm ô nhiễm.

 

Cốt khí củ có hàm lượng resveratrol cao, có thể trồng tại miền Bắc và cao nguyên Việt Nam, có thể khai thác resveratrol được.

 

NGUỒN: DS. LÊ VĂN NHÂN – DS. DIỆU PHƯƠNG

 

CÁC BỆNH DẠ DÀY
upload/files/an-26315-efb84.jpg

ĐAU DẠ DÀY VÌ ĂN UỐNG THIẾU KHOA HỌC.

Ngày đăng:07/04/2018 / 476 người xem

Ăn uống rất quan trọng cho sức khỏe con người, với những người bị bệnh đau dạ dày, vấn đề này còn trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, theo thống kê, đa phầ
PHỤ NỮ SAU SINH VÀ LÀM ĐẸP
upload/files/4_loi_ich_cua_viec_lam_trang_da_mat.jpg

CÁCH CHĂM SÓC DA MẶT SAU KHI SINH SÁNG MỊN CHO PHÁI ĐẸP.

Ngày đăng:11/04/2018 / 821 người xem

Thực hiện các cách chăm sóc da mặt sau khi sinh  sẽ giúp chị em cải thiện làn da đen sạm, xỉn màu đồng thời tút tát lại nhan sắc hữu hiệu nhất cho mẹ

Gửi câu hỏi